ݺߣ

ݺߣShare a Scribd company logo
ĐẠI CÁO NHÂN SĨ [hùngkaka nhược viết]

ĐẠI CÁO NHÂN SĨ.

Từ thuở ban sơ, thuở vô cùng,
Kinh Dương Vương khai sinh Xích Quỷ. (1)
Bách Việt Tiên Rồng, Hùng Vương lập địa Văn Lang.

Đã qua rồi,
Trưng Vương Nhị Nữ, phất cờ khởi nghĩa, danh động đất trời, sấm
vang khắp miền Hoa Hạ. (2)
Hay như Triệu Bà, cưỡi cơn gió to, đạp đường sóng dữ, sát kình
ngư ở biển Đông hòng dẹp yên bờ cõi.
Bộ Lĩnh họ Đinh, thuở thiếu thời đã tập trận cờ Lau, định ngày
xưng Vương, hiệu Đế…
“Phá Cường Địch, Báo Hoàng Ân”, hay như Hoài Văn Hầu không
cam mình tuổi nhỏ.
Xưa kia, các triều Lý-Trần- Hồ-Lê… cha ông ta đã mở mang cương
thổ.
Nay hạ bình thịnh trị, Bác luôn cùng cháu xây dựng non sông.
Đã trải qua hằng bao thế hệ, ngót cũng được mấy chục trăm năm.
Công ơn này làm sao kể xiết?
Nghĩa tình này há dễ đếm đong?
Tấm gương này làm sao noi theo?
Hình ảnh này làm sao sánh được?

Nay,
Ta ngồi đây giữa thanh Thiên bạch Nhật, lớp lớp mây trôi.
Lấy trời Cha để giới hạn tầm nhìn, hùng trương khí thế.
Lấy đất Mẹ làm chốn tọa chân thân, bàn long an định.
Hòa mình cùng cảnh lạ thiên nhiên, đối ẩm cùng lá cây ngọn cỏ.
Dòng lệ ngấn mạn đàm trà đạo, giọt tửu nồng kết tụ bởi phong
sương. (3)
Giới đồng đạo, hội quần hùng,
Cảm khái nghĩa tình mà ra lời hiệu triệu.
Lấy lẽ chính nhân mà đồng khí anh hùng.
Cầu việc quân, hòng minh hỷ sự.
Đảm việc nước, hòng thuận lòng nhân.

Nên ta nguyện,
Lấy hư vô làm văn tự, giấy bằng. (4)
Tức Mặc Hầu mài mực sông “Ngọa Thủy”. (5)
Lưu bút nghiên trên đỉnh núi “Tàng Long”. (6)
Chiếu Nhật Nguyệt minh chứng lời trượng nghĩa. (7)
Ức Trai tâm thượng mà đại cáo thiên hạ. Hùng văn thiên cổ, nhược
viết tâm lưu. (8)
Đạo Vương chí hạ mà xuất ngôn hiệu lệnh. Hịch văn thiên cổ, dũng
lược ba quân. (9)
Muôn đời lưu sử sách, người sau ắt tạc dạ.
Thiên niên mãi còn vọng, hậu thế ắt ghi lòng.

Tự thấy,
Thẹn đất trời mà cúi đầu bốn phương.
Tủi thánh nhân mà khóc sầu tám hướng.
Nhục việc nước, hổ việc nhà mà than thân trách phận, lạc đường
trăm ngã.
Xấu lòng nhân, kỷ tính người mà sinh lòng oán ghét, loạn mối
tương tư.

Bao năm qua,
Ta thưởng nguyệt dưới ánh trăng tàn, minh mà lại hối.
Đón ánh dương những ngày mây tụ, hối mà lại minh.
Tọa đá “Bàn Khê” mà gieo câu sông “Vị”, cầu thời cầu vận, khí tận
trời xanh. (10)
Ẩn mình “Ngọa Long Cương” mà nằm dài chờ nhân chờ hòa, thần
trải đất bằng. (11)

Ngặt nỗi,
Bất duyên hữu ngộ, gặp thời mạt lộ, khác chi thuận lòng nhân mà
trái lòng trời.
Kỳ tài cô thế, lợi địa tuyệt nhân, khác chi được lòng trời mà trái lòng
người.
Thương thay!
Khốn thay!
Bi thay!
Thống thay!

Thử hỏi:
Người nào thấu đạt?
Chí nào cho sâu?
Nhân nào cam chịu?
Lòng nào phẫn căm?
Bách niên nghi vấn, vạn niên nghi tình.
Năm tháng nào mới đạt được quả ngộ, giờ phút nào quả mới đơm
hoa?

Than ôi,
Ta cười vang cái bi ai của thánh nhân khi ta bi ai niềm hân hoan
của thiên hạ.
Ta điên trong cái điên của người trí khi ta trí trong cái trí của kẻ
khờ.
Ta say trong cơn say của người tỉnh khi ta tỉnh trong cơn tỉnh của
người mê.
Chao ôi,
Dẫu ta ca đến cùng, thán đến kiệt, phỏng có ích chi? Sự việc há sẽ
ra gì?
Càn khôn liệu có dịch chuyển, bá nghiệp liệu có thuận thành hay
chăng?

Ta hãy,
Khởi tư duy mà sinh hành động,
Bằng hành động ta tạo thói quen,
Lấy thói quen đi tìm sở thích,
Biến sở thích thành niềm đam mê
Từ đam mê, ắt thành công việc vậy.
Bởi thế,
Ta viết cáo này bá truyền thiên hạ, để thế nhân thêm phần hiểu ta.
Ta không ngồi đây mà so mình phận người, Bắc Trung rạch ròi hay
Nam kỳ xứ khác.
Ta không ngồi đây mà kì thị màu da hay dèm pha phương ngữ.
Tâm ta rộng vì ta trọng nhân tài, lòng ta sâu vì ta yêu tuấn kiệt.
Chí cùng cao để ta chiêu hiền tài, trí cùng dày để ta cầu nghĩa sĩ.

Nhược mong,
Ta cùng người hoàn thành sứ mạng của chúng ta đời này, phận
này, kiếp này.
Ta một lòng cầu khẩn mà thành tâm loan tin, khiêm nhường bá
cáo.
Xin người người ra sức chung tay mà cùng ta xây dựng sự nghiệp
thiên thu.

-------------------------------------------
(1) Theo truyền thuyết thì Thủy Tổ dân tộc Việt là Kinh Dương Vương. Xích Quỷ: tục truyền là quốc hiệu đầu
tiên của đất nước, được xem là cội nguồn của Việt Nam.
(2) Hoa Hạ: tên thường dùng để chỉ Trung Quốc.
(3) lệ ngấn - trà đạo: lấy nước mắt thay trà. Giọt tửu nồng-phong sương: Lấy gió sương thay rượu.
(4) Hư vô - giấy bằng: đứng giữa trời đất, lấy hư không làm giấy bằng (bằng trong bằng chứng).
(5) Tức Mặc Hầu là tên một nghiên mực của vua Tự Đức. Sông “Ngọa Thủy” (hình ảnh trừu tượng), song ẩn
dưới lòng đất (các dòng chảy dưới lớp đất). Ở đây chỉ: Lấy nước sông để mài mực.
(6) Lưu bút…từ đỉnh núi “Tàng Long” (Hình ảnh trừu tượng) chỉ: núi là bút, vì có mực là song (nước chảy
dưới chân núi).
(7) Chiếu nhật nguyệt minh chứng… soi ánh sáng của nhật nguyệt làm minh chứng cho văn tự cam kết.
(8) Ức Trai (tên hiệu của Nguyễn Trãi) – đại cáo thiên hạ: Ở đây ca ngợi Nguyễn Trãi đã viết Bình Ngô Đại
Cáo, mượn hình ảnh đó nhắm “đại cáo” (thông báo rộng rãi ra ngoài).
(9) Đạo Vương (Hưng Đạo Vương: Trần Hưng Đạo) – hịch văn (Hịch Tướng Sĩ)… dũng lược ba quân:
Mượn hình ảnh của Hưng Đạo Vương viết Hịch Tướng Sĩ khích lệ sĩ khí toàn quân.
(10) Tọa đá Bàn Khê… sông Vị.. cầu thời cầu vận…: Khương Tử Nha ngồi câu cá bên bờ sông Vị Thủy.
(11) …Ngọa Long cương….là tên một ngọn núi ở làng Ngọa Long Cương, khu Ngọa Long, thành phố Nam
Dương, Hà Nam, Trung Quốc. Tục truyền Gia Cát Lượng sống ở đây, lấy đạo hiệu là Ngọa Long tiên sinh.

-----------------------------------------------------------------------------------------------------




                                                                               Hùngkaka, founder & ceo 3G45 Group. Networking at:
                                                                                                               www.apolopa.com
                                                                                             www.facebook.com/3G45.hellovietnam

More Related Content

Đại cáo nhân sĩ - hùngkaka nhược viết.

  • 1. ĐẠI CÁO NHÂN SĨ [hùngkaka nhược viết] ĐẠI CÁO NHÂN SĨ. Từ thuở ban sơ, thuở vô cùng, Kinh Dương Vương khai sinh Xích Quỷ. (1) Bách Việt Tiên Rồng, Hùng Vương lập địa Văn Lang. Đã qua rồi, Trưng Vương Nhị Nữ, phất cờ khởi nghĩa, danh động đất trời, sấm vang khắp miền Hoa Hạ. (2) Hay như Triệu Bà, cưỡi cơn gió to, đạp đường sóng dữ, sát kình ngư ở biển Đông hòng dẹp yên bờ cõi. Bộ Lĩnh họ Đinh, thuở thiếu thời đã tập trận cờ Lau, định ngày xưng Vương, hiệu Đế… “Phá Cường Địch, Báo Hoàng Ân”, hay như Hoài Văn Hầu không cam mình tuổi nhỏ. Xưa kia, các triều Lý-Trần- Hồ-Lê… cha ông ta đã mở mang cương thổ. Nay hạ bình thịnh trị, Bác luôn cùng cháu xây dựng non sông. Đã trải qua hằng bao thế hệ, ngót cũng được mấy chục trăm năm. Công ơn này làm sao kể xiết? Nghĩa tình này há dễ đếm đong? Tấm gương này làm sao noi theo? Hình ảnh này làm sao sánh được? Nay, Ta ngồi đây giữa thanh Thiên bạch Nhật, lớp lớp mây trôi. Lấy trời Cha để giới hạn tầm nhìn, hùng trương khí thế. Lấy đất Mẹ làm chốn tọa chân thân, bàn long an định. Hòa mình cùng cảnh lạ thiên nhiên, đối ẩm cùng lá cây ngọn cỏ. Dòng lệ ngấn mạn đàm trà đạo, giọt tửu nồng kết tụ bởi phong sương. (3) Giới đồng đạo, hội quần hùng, Cảm khái nghĩa tình mà ra lời hiệu triệu. Lấy lẽ chính nhân mà đồng khí anh hùng.
  • 2. Cầu việc quân, hòng minh hỷ sự. Đảm việc nước, hòng thuận lòng nhân. Nên ta nguyện, Lấy hư vô làm văn tự, giấy bằng. (4) Tức Mặc Hầu mài mực sông “Ngọa Thủy”. (5) Lưu bút nghiên trên đỉnh núi “Tàng Long”. (6) Chiếu Nhật Nguyệt minh chứng lời trượng nghĩa. (7) Ức Trai tâm thượng mà đại cáo thiên hạ. Hùng văn thiên cổ, nhược viết tâm lưu. (8) Đạo Vương chí hạ mà xuất ngôn hiệu lệnh. Hịch văn thiên cổ, dũng lược ba quân. (9) Muôn đời lưu sử sách, người sau ắt tạc dạ. Thiên niên mãi còn vọng, hậu thế ắt ghi lòng. Tự thấy, Thẹn đất trời mà cúi đầu bốn phương. Tủi thánh nhân mà khóc sầu tám hướng. Nhục việc nước, hổ việc nhà mà than thân trách phận, lạc đường trăm ngã. Xấu lòng nhân, kỷ tính người mà sinh lòng oán ghét, loạn mối tương tư. Bao năm qua, Ta thưởng nguyệt dưới ánh trăng tàn, minh mà lại hối. Đón ánh dương những ngày mây tụ, hối mà lại minh. Tọa đá “Bàn Khê” mà gieo câu sông “Vị”, cầu thời cầu vận, khí tận trời xanh. (10) Ẩn mình “Ngọa Long Cương” mà nằm dài chờ nhân chờ hòa, thần trải đất bằng. (11) Ngặt nỗi, Bất duyên hữu ngộ, gặp thời mạt lộ, khác chi thuận lòng nhân mà trái lòng trời.
  • 3. Kỳ tài cô thế, lợi địa tuyệt nhân, khác chi được lòng trời mà trái lòng người. Thương thay! Khốn thay! Bi thay! Thống thay! Thử hỏi: Người nào thấu đạt? Chí nào cho sâu? Nhân nào cam chịu? Lòng nào phẫn căm? Bách niên nghi vấn, vạn niên nghi tình. Năm tháng nào mới đạt được quả ngộ, giờ phút nào quả mới đơm hoa? Than ôi, Ta cười vang cái bi ai của thánh nhân khi ta bi ai niềm hân hoan của thiên hạ. Ta điên trong cái điên của người trí khi ta trí trong cái trí của kẻ khờ. Ta say trong cơn say của người tỉnh khi ta tỉnh trong cơn tỉnh của người mê. Chao ôi, Dẫu ta ca đến cùng, thán đến kiệt, phỏng có ích chi? Sự việc há sẽ ra gì? Càn khôn liệu có dịch chuyển, bá nghiệp liệu có thuận thành hay chăng? Ta hãy, Khởi tư duy mà sinh hành động, Bằng hành động ta tạo thói quen, Lấy thói quen đi tìm sở thích, Biến sở thích thành niềm đam mê Từ đam mê, ắt thành công việc vậy.
  • 4. Bởi thế, Ta viết cáo này bá truyền thiên hạ, để thế nhân thêm phần hiểu ta. Ta không ngồi đây mà so mình phận người, Bắc Trung rạch ròi hay Nam kỳ xứ khác. Ta không ngồi đây mà kì thị màu da hay dèm pha phương ngữ. Tâm ta rộng vì ta trọng nhân tài, lòng ta sâu vì ta yêu tuấn kiệt. Chí cùng cao để ta chiêu hiền tài, trí cùng dày để ta cầu nghĩa sĩ. Nhược mong, Ta cùng người hoàn thành sứ mạng của chúng ta đời này, phận này, kiếp này. Ta một lòng cầu khẩn mà thành tâm loan tin, khiêm nhường bá cáo. Xin người người ra sức chung tay mà cùng ta xây dựng sự nghiệp thiên thu. ------------------------------------------- (1) Theo truyền thuyết thì Thủy Tổ dân tộc Việt là Kinh Dương Vương. Xích Quỷ: tục truyền là quốc hiệu đầu tiên của đất nước, được xem là cội nguồn của Việt Nam. (2) Hoa Hạ: tên thường dùng để chỉ Trung Quốc. (3) lệ ngấn - trà đạo: lấy nước mắt thay trà. Giọt tửu nồng-phong sương: Lấy gió sương thay rượu. (4) Hư vô - giấy bằng: đứng giữa trời đất, lấy hư không làm giấy bằng (bằng trong bằng chứng). (5) Tức Mặc Hầu là tên một nghiên mực của vua Tự Đức. Sông “Ngọa Thủy” (hình ảnh trừu tượng), song ẩn dưới lòng đất (các dòng chảy dưới lớp đất). Ở đây chỉ: Lấy nước sông để mài mực. (6) Lưu bút…từ đỉnh núi “Tàng Long” (Hình ảnh trừu tượng) chỉ: núi là bút, vì có mực là song (nước chảy dưới chân núi). (7) Chiếu nhật nguyệt minh chứng… soi ánh sáng của nhật nguyệt làm minh chứng cho văn tự cam kết. (8) Ức Trai (tên hiệu của Nguyễn Trãi) – đại cáo thiên hạ: Ở đây ca ngợi Nguyễn Trãi đã viết Bình Ngô Đại Cáo, mượn hình ảnh đó nhắm “đại cáo” (thông báo rộng rãi ra ngoài). (9) Đạo Vương (Hưng Đạo Vương: Trần Hưng Đạo) – hịch văn (Hịch Tướng Sĩ)… dũng lược ba quân: Mượn hình ảnh của Hưng Đạo Vương viết Hịch Tướng Sĩ khích lệ sĩ khí toàn quân. (10) Tọa đá Bàn Khê… sông Vị.. cầu thời cầu vận…: Khương Tử Nha ngồi câu cá bên bờ sông Vị Thủy. (11) …Ngọa Long cương….là tên một ngọn núi ở làng Ngọa Long Cương, khu Ngọa Long, thành phố Nam Dương, Hà Nam, Trung Quốc. Tục truyền Gia Cát Lượng sống ở đây, lấy đạo hiệu là Ngọa Long tiên sinh. ----------------------------------------------------------------------------------------------------- Hùngkaka, founder & ceo 3G45 Group. Networking at: www.apolopa.com www.facebook.com/3G45.hellovietnam